Friday, 12 August 2011

Các giá trÎ phÆt h†c trong truyŒn Løc Vân Tiên

    Các giá trÎ phÆt h†c trong truyŒn Løc Vân Tiên

                                                        Thái Công Tøng


1. DÅn nhÆp. Trong lÎch sº væn h†c ViŒt Nam, có rÃt nhiŠu truyŒn thÖ, tØ Kim Vân KiŠu, Løc Vân Tiên, ljn Phåm Công Cúc Hoa, Cung Oán ..luôn luôn có phän ánh tri‰t thuy‰t Tam Giáo nghïa là phäng phÃt 3 giáo lš chính : PhÆt, Nho, Lão ...  Çan xen trong truyŒn. TruyŒn Løc Vân Tiên, m¶t truyŒn thÖ 2 082 câu vi‰t theo løc bát cÛng không thoát khÕi nhÆn xét Çó. ñ¥c biŒt, truyŒn chuyên chª nh»ng giá trÎ PhÆt giáo trong Çó có nhân quä, tinh thÀn phá chÃp, lòng tØ bi, tính cách vô thÜ©ng vÓn là nh»ng thu¶c tính cûa PhÆt giáo. Th¿c vÆy, ta thÃy nhan nhãn và räi rác Çây Çó trong truyŒn các thuÆt ng» PhÆt giáo thông thÜ©ng: qûa báo, tØ bi, quy y, quan âm, phÆt bà, phiŠn não, phù du v.v.
 Trܧc khi Çi vào chi ti‰t, ta hãy nói qua vŠ tác giä và tình ti‰t câu truyŒn

2. Tác giä và tình ti‰t câu truyŒn
21. Nói qua vŠ tác giä trong bÓi cänh lÎch sº
Tác giä truyŒn Løc vân Tiên là NguyÍn ñình Chi‹u (1822-1888) có cha là NguyÍn Çình Huy, ngÜ©i ThØa Thiên, theo Lê Væn DuyŒt tØ Hu‰  vào làm thÜ låi ª Gia ñÎnh. Sau Çó  lÃy v® sinh ra ông.
Næm 22 tu°i,  NguyÍn ñình Chi‹u LJ Tú Tài trÜ©ng Gia ñÎnh (trào vua ThiŒu TrÎ).
Næm 25 tu°i, Chi‹u ra Hu‰ h†c ch© khoa thi h¶i nhÜng vì mË mÃt (1848) nên bÕ thi,  trª vào Nam chÎu tang, khi ljn Quäng Nam, bÎ Çau m¡t, trª thành mù .
Næm 30 tu°i, Chi‹u mª trÜ©ng dåy h†c  ª Gia ñÎnh, do Çó có tên g†i cø ñÒ Chi‹u .
BÓi cänh lÎch sº lúc Çó rÃt nhiÍu nhÜÖng v§i håm Ƕi Pháp b¡n phá ñà N£ng (næm 1858), lÃy thành Gia ñÎnh (1859) rÒi các cu¶c khªi nghïa nhân dân Nam b¶ n°i dÆy chÓng Pháp kh¡p nÖi, lúc Çó Chi‹u 41 tu°i .
Trong suÓt nh»ng næm Çó truyŒn Løc Vân Tiên ra Ç©i, ÇŠ cao lòng trung nghïa nên nh© Çó ÇÜ®c nhiŠu ngÜ©i Üa chu¶ng. Ông mÃt næm 1888 lúc 67 tu°i .Có nhiŠu ngÜ©i con trong Çó phäi Ç‹ š SÜÖng NguyŒt Ánh là m¶t n» sï có ti‰ng ª miŠn Nam (g†i thêm là SÜÖng vì bà NguyŒt Ánh là goá phø )
2.2 vŠ truyŒn Løc Vân Tiên
ChuyŒn tình gian truân v§i nhiŠu hoàn cänh éo le này lôi kéo Ƕc giä trª vŠ th‰ k› 19.
Gian truân vì trong truyŒn, cu¶c tình trong tr¡ng gi»a m¶t chàng trai Çi thi tÙc Løc Vân Tiên v§i m¶t kiŠu n» tÙc KiŠu NguyŒt Nga Çã g¥p phäi rÃt nhiŠu chông gai, h‰t nghÎch cänh này ljn gian truân kia. Nh»ng s¿ cÓ trong truyŒn v§i muôn hình, muôn vÈ, nào nh»ng ngÜ©i båc ác tinh ma, nào kÈ cܧp, ngÜ©i phän bån, kÈ vô lÜÖng nhÜ TrÎnh Hâm, nhÜ  Bùi KiŒm, cha con v® chÒng nhà Võ Công  nhÜng cÛng ÇÀy các nhân vÆt lí tܪng nhÜ Vân Tiên, NguyŒt Nga, H§n Minh, Tº Tr¿c, Ti‹u ÇÒng, nh»ng ngÜ©i có lòng tØ bi nhÜ ngÜ©i tiŠu phu, ngÜ©i Çánh cá .
 TruyŒn Løc Vân Tiên tuy væn phong không chäi chuÓt nhÜ TruyŒn KiŠu nhÜng ÇÜ®c nhiŠu ngÜ©i ,- và Ç¥c biŒt là ngÜ©i ÇÒng b¢ng sông Cºu Long- Üa thích vì l©i væn bình dÎ dÍ hi‹u, thêm vào Çó có chút bi kÎch lâm ly nên dÍ phä vào hÒn ngÜ©i .

TruyŒn tóm t¡t nhÜ sau:
TØ câu ÇÀu ljn câu 286:  Løc Vân Tiên, m¶t sinh viên cótài lÅn n‰t Çã Çính hôn v§I Võ Th‹ Loan rÒi nhân Çi lên kinh Çô Çi thi, g¥p KiŠu NguyŒt Nga bÎ b†n gi¥c b¡t. NguyŒtNga ÇÜ®c Vân Tiên cÙu khÕi và thŠ nguyŠn lÃy Vân Tiên sau này Ç‹ tå Ön.
TØ câu 287 ljn câu 1264 : nhiŠu nghÎch cänh xäy ljn v§i Løc Vân Tiên:  lên ÇÜ©ng Çi thi v§i ngÜ©i ti‹u ÇÒng, bÎ TrÎnh Hâm lØa trói vào rØng nhÜng ÇÜ®c thoát nån, tܪng Vân Tiên Çã ch‰t, nguyŠn che chòi gi» mä cho Vân Tiên còn Vân Tiên bÎ TrÎnh Hâm xô xuÓng sông, nhÜng ÇÜ®c ngÜ©i Çánh cá cÙu sÓng. Løc Vân Tiên låi bÎ ông nhåc, tÙc cha Võ Th‹ Loan b¶i ܧc, không gä vì Løc vân Tiên bÎ mù, Çem bÕ vào hang, nhÜng ÇÜ®c ngÜ©i tiŠu phu cÙu. Cha Võ Th‹ Loan muÓn gä con gái mình cho VÜÖng Tº Tr¿c là bån cûa Løc Vân Tiên nhÜng bÎ m¡ng nhi‰c, xÃu h° Óm ch‰t. Vân Tiên g¥p låi H§n Minh vÜ®t ngøc Än trÓn trong chùa, vì H§n Minh Çánh con quan huyŒn trong khi  cÙu m¶t phø n»  .
 TØ câu 1265 ljn câu 1664 k‹ chuyŒn NguyŒt Nga bÎ tên nÎnh thÀn,-Thái sÜ trong triŠu-, muÓn ép duyên nhÜng không ÇÜ®c. Nhân có gi¥c Phiên sang quÃy nhiÍu, Thái sÜ bèn tâu vua Sª b¡t nàng sang cÓng cho gi¥c Phiên, nhÜng vì muÓn gi» lòng chung thu› v§i Vân Tiên nên Çã nhäy xuÓng sông t¿ tº. May g¥p NgÜ ông v§t, ÇÜ®c Quan Âm cÙu rÒi bÎ Bùi KiŒm ép duyên, ÇÜ®c m¶t bà lão Çem vŠ nuôi .
Và cuÓi cùng tØ câu 1665 ljn câu 2082 là Løc Vân Tiên g¥p låi NguyŒt Nga, cܧi nhau: Vân Tiên ÇÜ®c thuÓc tiên sáng m¡t ra, ÇÆu Trång Nguyên, Çánh tan gi¥c Phiên lÆp công to ;lúc vŠ g¥p NguyŒt Nga trong chùa ; các kÈ gian ác bΠ t¶i.

3. Các giá trÎ PhÆt giáo qua truyŒn Løc Vân Tiên
Ngay tØ vài câu ÇÀu truyŒn thÖ, ta Çã thÃy tÜÖng quan nhân quä:   
Có ngÜ©i ª quÆn ñông thành.
Tu nhân tích ÇÙc s§m sanh con hiŠn
ñ¥t tên là Løc Vân Tiên (câu 7-9)

 Ý nói là nh© cha mË tu nhÖn tích ÇÙc Çã lâu nên con sinh ra hiŠn lành, Çúng nhÜ tøc ng» ta là: cha mË hiŠn lành Ç‹ phúc cho con
Trong tÜÖng quan nhân qûa, thÆt ra, không có cái gì xäy ra mà chÌ có m¶t nguyên nhân duy nhÃt sinh ra . Ngoài cái y‰u tÓ ‘nhân’ ra, phäi còn Ç‹ š các y‰u tÓ khách quan nhÜ môi trÜ©ng, hoàn cänh, tóm låi cái mà phÆt h†c g†i là duyên. Nhân Çi liŠn v§i duyên: thuÆn duyên hay nghÎch duyên. Có m¶t nhân chánh, nhÜng nhân chánh này bÎ nhiŠu nhân và duyên phø ljn làm sai låc  s¿ thuÀn nhÃt cûa cái nhân chánh Ãy Çi, nhÜ tøc ng» ta có câu: cha mË sinh con, tr©i sinh tánh
S¿ vÆt hiŒn ra ÇÜ®c là do nhiŠu nhân duyên tÜÖng tác v§i nhau mà hình thành:
Có giÓng tÓt nhÜng n‰u ÇiŠu kiŒn chû quan xÃu ( ÇÃt nghèo, khô nܧc, sâu b†) và ÇiŠu kiŒn khách quan không thuÆn l®i (bão løt, hån hán,..) thì dù ‘nhân’ ª Çây là håt giÓng có tÓt Çi chæng n»a thì cÛng không phát huy ÇÜ®c k‰t qûa tÓt. Tóm låi, nhân và duyên tác Ƕng qua låi, Çan xen, tÜÖng quan, tÜÖng nhÆp m§i  tåo nên cái quä. NhÜ vÆy, quä chính là s¿ h‡n h®p cûa nhiŠu nhân duyên phÙc tåp. TruyŒn KiŠu cÛng có câu: Nhân duyên Çâu låi mà mong, chính cÛng xác nhÆn ÇiŠu Çó .
TÜÖng quan nhân qûa nhÜ vÆy không có tính cách ÇÖn tuy‰n mà m†i quan hŒ ÇŠu có tính cách phi tuy‰n, có tÜÖng tác gi»a các y‰u tÓ .
Thº Çi‹m qua vài nhân vÆt chính trong truyŒn:

-Løc Vân Tiên. Trên ÇÜ©ng Çi thi,  d†c ÇÜ©ng khi nghe dân quanh vùng than phiŠn có b†n lâu la cܧp bóc và Ç¥c biŒt ‘thÃy con gái tÓt qua ÇÜ©ng b¡t Çi, Xóm làng ch£ng dám nói chi ‘thì  Vân Tiên giúp giäi thoát ÇÜ®c các cô thøc n» này trong Çó có KiŠu  NguyŒt Nga. NguyŒt Nga muÓn m©i vŠ nhà Ç‹ trä Ön vì ‘g¥p Çây ÇÜÖng lúc gi»a Çàng, cûa tiŠn ch£ng có båc vàng cÛng không’ nhÜng Vân Tiên thÓi thác:
‘Làm Ön há dÍ trông ngÜ©i trä Ön
Nay Çà rõ Ç¥ng nguÒn cÖn
Nào ai tính thiŒt so hÖn làm gì
NhÜ vÆy có nghïa là bÓ thí; bÓ thí không nhÃt thi‰t vŠ tiŠn båc, cûa cäi mà m¶t l©i nói ng†t ngào, m¶t cº chÌ hܧng thiŒn cÛng là bÓ thí. NhÜ m¶t PhÆt tº chân chính, thÃm nhuÀn v§i nguyên t¡c Vô Ngã, Vân Tiên Çã hܧng lòng vÎ tha t¿ nhiên Ç‹  giúp Ç« tích c¿c cho ngÜ©i bÎ nån qua š nghï, hành Ƕng và l©i nói Çem låi an låc cho tha nhân.
Cº chÌ và l©i Çáp cûa Vân Tiên nhÜ m¶t bÓ thí t¿ nhiên, mà bÓ thí là Çi‹m ÇÀu tiên cûa phép løc Ƕ (bÓ thí, tinh tÃn, nhÅn nhøc, trì gi§i, thiŠn ÇÎnh, trí huŒ ).

 - NguyŒt Nga
Khi nܧc s¡p sºa bÎ gi¥c Phiên xâm læng, låi có nh»ng ngÜ©i nhÜ Thái sÜ, ÇÀy quyŠn th‰ muÓn lÃy KiŠu NguyŒt Nga nhÜng không ÇÜ®c bèn b¡t nàng sang cÓng cho vua nܧc Phiên Ç‹ cho yên:

MuÓn cho khÕi gi¥c Ô Qua
ñÜa con gái tÓt giao hoà th©i xong
NguyŒt Nga là gái KiŠu Công
Tu°i vØa hai tám má hÒng ÇÜÖng xinh ( câu 1381-1384)
nhÜng vì NguyŒt Nga vÅn yêu ngÜ©i tình là Løc Vân Tiên nên NguyŒt Nga nhäy xuÓng sông :
          NguyŒt Nga nhäy xuÓng nºa v©i
           Sóng thÀn ÇÜa ÇÄy vào nÖi bãi rày (câu 1517-1518)       
ÇÜ®c Quan Âm  giúp:
Xi‰t bao sÜÖng tuy‰t Çêm Çông
Mình n¢m gi»a bãi lånh lùng ai hay
Quan âm thÜÖng ÇÙng thäo ngay
Bèn Çem nàng låi bÕ rày vÜ©n hoa
D¥n r¢ng: nàng h«i NguyŒt Nga
Tìm nÖi nÜÖng náu cho qua tháng ngày
ñôi ba næm n»a gÀn Çây
V® chÒng sao cÛng sum vÀy m¶t nÖi’ (câu 1521-1528)
NhÜ vÆy, g¥p trÜ©ng h®p hi‹m  nghèo, NguyŒt Nga Çã ÇÜ®c vÎ BÒ tát Quan Âm phò trì.
NhÜng tìm ÇÜ®c ch‡ dung thân tåi nhà h† Bùi thì ông cha muÓn con mình là Bùi KiŒm k‰t hôn v§i nàng nhÜng NguyŒt Nga c¿ tuyŒt và Çi trÓn ban Çêm qua bøi, qua Çèo và   nh© g¥p ngÜ©i tÓt:
NgÜ©i ngay tr©i phÆt cÛng vÜng[1]
Lão bà chÓng gÆy trong rØng bܧc ra
Hõi r¢ng: Nàng phäi NguyŒt Nga
Khá tua g¡ng gÜ®ng vŠ nhà cùng ta

Khi khuya n¢m thÃy PhÆt bà

NgÜ©i Çà mách bäo nên già t§i Çây (câu 1651-1656)

NguyŒt Nga nh© phÆt bà Quan Âm h¶ trì ch© ngày nÓi låi v§i ngÜ©i tình ÇÀu
Trong khi Çó, Thái sÜ, ngÜ©i Çã ép NguyŒt Nga lÃy vua Phiên thì s
au khi Vân Tiên thi ÇÆu Trång Nguyên và cùng v§i H§n Minh  lên ÇÜ©ng xông pha Çu°i ÇÜ®c gi¥c Phiên, ca khúc khäi hoàn trܧc nhà vua thì nhà vua bèn cách chÙc:
Sª vÜÖng phán trܧc trào ca :
‘Thái sÜ cách chÙc vŠ nhà làm dân’
chÙng tÕ thêm n»a cái hÆu qûa cûa s¿ tåo nghiŒp d» tØ trܧc

- TrÎnh Hâm:
Con ngÜ©i TrÎnh Hâm nhiŠu tham, sân, si và có nhiŠu hành Ƕng tåo nghiŒp d» . Nào là .v§i  Vân Tiên thì:
TrÎnh Hâm khi Ãy ra tay
Vân Tiên bÎ ngã xô ngay xuÓng v©i (câu 939-940)
NhÜng may ÇÜ®c ngÜ©i Çánh cá cÙu thoát:
VØa may tr©i Çã sáng ngày
Ông chài xem thÃy v§t ngay lên b©
HÓi con vÀy lºa m¶t gi©
Ông hÖ bøng då, mø hÖ m¥t mày (câu 947-950)
-v§i ti‹u ÇÒng Çi theo Vân Tiên thì y trói gÓc cây:
TrÎnh Hâm trong då gÜÖm dao
B¡t ngÜ©i ÇÒng tº trói vào gÓc cây
Trܧc cho hùm c†p æn mày
Håi Tiên phäi døng mÜu này m§i xong
Vân Tiên ngÒi nh»ng Ç®i trông
TrÎnh Hâm vŠ nói ti‹u ÇÒng c†p æn (câu 871-876)

Tuy nhiên, trong truyŒn, sau khi Vân Tiên thi ÇÆu, vua sai Çánh phá ÇÜ®c gi¥c Phiên, Çem  nh»ng ngÜ©i hãm håi ngày xÜa nhÜ TrÎnh Hâm ra xº cÛng ÇÜ®c Vân Tiên tha b°ng, chÙng tÕ tinh thÀn phá chÃp cûa Vân Tiên:
Trång r¢ng: HÍ ÇÙng anh hùng
Nào ai có gi‰t ÇÙa cùng làm chi
Thôi thôi ta cÛng r¶ng suy
TruyŠn quân mª trói Çu°i Çi cho rÒi (câu 1971-1974)
Phá chÃp vô ngã chính cÛng là  nh»ng l©i dåy trong PhÆt pháp.
NhÜng vì cái nghiŒp n¥ng nŠ cûa TrÎnh Hâm nên khi Çi vŠ qua sông cÛng bÎ chìm xuÒng ch‰t:
TrÎnh Hâm vŠ t§i Hàn Giang
Sóng thÀn n°i dÆy thuyŠn chàng chìm ngay
TrÎnh Hâm bÎ cá nuÓt rày
ThiŒt tr©i báo Ùng lë này rÃt Üng
ThÃy vÀy nên dºng dØng dÜng
Làm ngÜ©i ai nÃy thì ÇØng bÃt nhân (câu 1989-1994)

ThiŒt tr©i báo Ùng’ chính cÛng phän ánh tÜÖng quan nhân quä cûa PhÆt h†c và do Çó tác giä khuyên ngay: Làm ngÜ©i ai nÃy thì ÇØng bÃt nhân 

-Võ Công
Låi có nh»ng kÈ giàu có nhÜng có lòng b¶i båc nhÜ VÛ Công, cha v® Løc vân Tiên, khi thÃy con r‹ bÎ mù, ÇÎnh hãm håi con r‹ Ç‹ gä con gái mình tên Võ  Th‹ Loan cho ngÜ©i khác  thu¶c gia Çình h† VÜÖng, b¢ng cách Çem bÕ Vân Tiên vào hang:
NgÅm mình tai nån bi‰t bao
M§i lên khÕi bi‹n låi vào trong hang (câu 1063-1064)
nhÜng ÇÜ®c ngÜ©i tiŠu phu cÙu thoát .

MË con Th‹ Loan rút cøc cÛng bÎ quä báo hiŒn ra:
V¶i vàng cúi låy chÜn rày trª ra
Trª vŠ chÜa kÎp t§i nhà
ThÃy hai con c†p chåy ra Çón Çàng
Thäy ÇŠu b¡t mË con nàng
ñem vào låi bÕ trong hang ThÜÖng tòng
BÓn bŠ Çá lÃp bÎt bùng
MË con than khóc khôn trông ra rÒi
Tr©i kia quä báo mÃy hÒi
Ti‰c công son Çi‹m phÃn dÒi bÃy lâu (2062-2070)

Tr©i kia quä báo mÃy hÒi, Çây là m¶t câu quan tr†ng tóm t¡t luÆt nhân quä: ai gieo gió thì g¥t bão. Trܧc Çây, ta cÛng Çã g¥p ch»  ‘ThiŒt tr©i báo Ùng’

- H§n Minh

Anh chàng này gi»a ÇÜ©ng thÃy chuyŒn bÃt bình ra tay cÙu giúp m¶t cô gái bÎ hi‰p dâm, ra huyŒn t¿ n¶p mình, bÎ Çày và vÜ®t ngøc trÓn thoát, vào chùa mai danh Än tích:
Minh r¢ng: Tôi vÓn ch£ng may,
Ngày xÜa m¡c phäi án Çày trÓn Çi
Dám Çâu bày m¥t ra thi
ñã Çành hai ch» quy y chùa này(câu 1677-1680)
ho¥c:
Ngày xÜa m¡c án trÓn Çi
Phäi vŠ nÜÖng náu bi Än mình (câu 1755-1756)

NhÜ vÆy, H§n Minh g¥p cÖn hoån nån Çã nh© bàn tay ân cÀn cûa chùa chiŠn, nÜÖng ánh tØ bi, sÓng qua ngày Çoån tháng, nhÜ nàng KiŠu trong TruyŒn KiŠu:
 PhÆt tiŠn thäm lÃp sÀu vùi
Ngày pho thû t¿ Çêm nÒi tâm hÜong
Cho hay gi†t nܧc cành dÜÖng
Ho¥c:
Gºi thân ÇÜ®c chÓn am mây
MuÓi dÜa Ç¡p ǰi tháng ngày thong dong

  Vân Tiên cÛng nh© H§n Minh cho tá túc ª chùa v§i l©i nguyŠn:
Mãy næm hÄm hú tÜÖng rau
Khó nghèo n« phø sang giàu Çâu quên
Sau này Løc Vân Tiên khi thi ÇÆu ra làm quan to bèn gi§i thiŒu H§n Minh  v§i vua; vua  ân xá cho H§n Minh Ç‹ rÒi cùng v§i Vân Tiên lãnh Çåo Çu°i  gi¥c Phiên; nhÜ vÆy, ngoài cái nhân và cái trí, hai nhân vÆt này låi thêm cái dÛng n»a .’Ki‰n nghïa bÃt vi vô dÛng dã’. Thi‰u dÛng thì không dám Çãu tranh, chÌ là kÈ cÖ h¶i, ch© th©i, thÃy Çúng không dám bäo vŒ. NhÜ vÆy h† có cä 3 ÇÙc tính: nhân, trí, dÛng

- NgÜ©i ti‹u ÇÒng, bÎ TrÎnh Hâm lØa trói vào rØng nhÜng Ç܆c thoát nån, tܪng Vân Tiên Çã ch‰t, nguyŠn che chòi gi» mä cho Vân Tiên. Ai cÛng tܪng chú ti‹u ÇÒng Çã ch‰t nhÜng nh©  nghiŒp lành trung thành v§i chû Çã h¶ trì  trª vŠ không phäi trong m¶ng nhÜng là ngÜ©i thÆt:
NgÜ©i ngay tr©i PhÆt Ƕng lòng
Phút Çâu ngó thÃy ti‹u ÇÒng Çén coi (2007-2008)

- Lòng tØ bi cûa ngÜ©i tiŠu phu: khi Vân Tiên muÓn trä Ön ngÜ©i tiŠu phu Çã cÙu thoát mình,
Lão tiŠu m§i  nói: Thôi thôi
Làm Ön mà låi trông ngÜ©i sao hay ?
Già hay thÜÖng kÈ thäo ngay,
Này thôi Ç‹ lão d¡t ngay vŠ  nhà (câu 1107-1110)

L©i thÓt ra cûa ngÜ©i tiŠu phu : Làm Ön mà låi trông ngÜ©i sao hay ? rÃt quan tr†ng vì có nghïa là s¿ bÓ thí, lòng tØ cûa ngÜ©i tiŠu phu là giúp ngÜ©i không phân biŒt, không tính toán . Lòng tØ ª Çây không ‘trø’ tܧng, không  trông trä Ön cÛng ch£ng cÀu phúc báo, nói khác Çi không chÃp trܧc, không vܧng m¡c.  
 Ngoài giá trÎ nhân quä, giá trÎ tØ bi trong truyŒn Løc Vân Tiên, thÌnh thoäng ta cÛng thÃy š niŒm vô thÜ©ng. Th¿c vÆy, khi cha Løc Vân Tiên thÃy NguyŒt Nga thÃt v†ng vì tܪng là Løc Vân Tiên Çã ch‰t thì :
Ki‰m l©i khuyên giäi v§i nàng:
Giäi cÖn phiŠn não kÈo mang lÃy sÀu
NgÜ©i Ç©i nhÜ bóng phù du
S§m còn tÓi mÃt công phu l« làng (câu 1299-1302)-

Trong PhÆt h†c, khái niŒm vô thÜ©ng, s¡c s¡c không không do cu¶c Ç©i và trào lÜu tâm lí bi‰n ǰi liên tøc cÛng là m¶t khái niŒm cæn bän. Do Çó, con ngÜ©i cÀn sÓng trong giây phút hiŒn tåi, gi» chánh niŒm trong m‡i phút giây, tìm låi s¿ an nhiên t¿ tåi, nhÜ l©i thÓt ra cûa ngÜ©i tiŠu phu cÙu Vân Tiên ra khÕi hang :
TÃm lòng ch£ng muÓn cûa ai
Lánh nÖi danh l®i chông gai c¿c lòng
Kìa non n† nܧc thong dong
Træng thanh gió mát bån cùng hÜÖu nai (1141-1144)

ho¥c cûa l©i ngÜ©i ngÜ phû cÙu Vân Tiên:
Rày doi[2] mai vÎnh vui vÀy
Ngày kia hÙng gió Çêm nÀy chÖi træng
M¶t mình thong thä làm æn
KhoÈ quÖ chài kéo mŒt quæng câu dÀm[3]
Nghêu ngao nay chích mai ÇÀm
M¶t bÀu tr©i ÇÃt vui thÀm ai hay (câu 967-972)

ho¥c cûa ngÜ©i chû quán, nÖi 4 chàng TrÎnh Hâm, Tº Tr¿c, Bùi KiŒm, Vân Tiên dØng låi nghÌ chân trܧc khi ra kinh Çi thi :
Non xanh nܧc bi‰c vui vÀy
Khi Çêm rÜ®u cúc khi ngày trà lan
DÃn thân vào chÓn an nhàn
Thoát vòng danh l®i lánh Çàng thÎ phi  (Câu 615-618)

Cä ba Çoån thÖ sau cùng này ÇŠ cao m¶t môi trÜ©ng thái hoà giúp con ngÜ©i lâng lâng thoát tøc. Môi trÜ©ng trong såch v§i núi rØng thiên nhiên, mây tr©i hiŠn hoà, con suÓi nܧc ngåi ngùng chäy, mùi nh¿a thông ngai ngái v.v.giúp con ngÜ©i tìm låi chính mình, thoát khÕi các phiŠn buÒn. ñ‹ vi‰t theo ki‹u m¶t phän Ùng hoá h†c:

Môi trÜ©ng thiên nhiên trong såch+Con ngÜ©i-----à tham, sân, si + tâm an låc.
                                                                                          ↓↓↓
NhÜ trong m¶t dung dÎch hoá h†c, các chÃt tham, sân, si bÎ k‰t tuä, còn låi phía trên là tâm an låc, thanh tÎnh, mà š tÓt, tÙc chánh tÜ duy, chánh ki‰n là tiŠn ÇŠ cho m†i hành Ƕng tÓt .                                                                                     
 Môi trÜ©ng yên tïnh giúp ta an niŒm dÍ dàng hÖn, niŒm trong giây phút hiŒn tåi, Çúng nhÜ khi chi‰t t¿ ch» NIM   theo ch» Hán, gÒm 2 phÀn: phÀn trên có ch» Kim    tÙc hiŒn tåi, phÀn dܧi có ch» Tâm .
Vô hình chung, NguyÍn ñình Chi‹u qua các Çoån thÖ trên Çã minh xác tÜÖng quan gi»a ngÜ©i và vån vÆt trong cõi môi sinh thái hoà, tìm låi cái thân tâm t¿ tåi.
BÃt ch®t nghï ljn các câu thÖ sau cûa Tô Thùy Yên :
LiŒu Ç©i ta còn chæng m¶t ch‡ ph£ng
ñû d†n quang mà d¿ng am mây
…n ngày tháng, Çi vŠ không Ƕng bóng
Trø nÖi tâm, t¿ tåi gi»a vÀn xoay
Trø nÖi tâm, th¿c vÆy, nhà thÖ Tô Thùy Yên Çã nói lên cÓt lÕi cûa Çåo PhÆt: ÇiŠu phøc Tâm, Çåo Ç©i m¶t c¶i, gÀn xa tåi lòng .
T¿ tåi thong dong cÛng là m¶t thu¶c tính cûa PhÆt giáo vì PhÆt giáo khuyên ta nên có trí viên dung vô ngåi, thoát khÕi cái nhÎ nguyên và ÇŠ cao m¶t nŠn væn hoá hoà bình .

4. K‰t luÆn:
Ngoài nh»ng giá trÎ PhÆt giáo muôn Ç©i vØa ÇŠ cÆp Õ trên nhÜ TØ, Bi, HÌ, Xä , nhÜ bÓ thí, phá chÃp ..  truyŒn  Løc Vân Tiên còn  dåy ÇiŠu trung nghïa:
Trai th©i trung hi‰u làm ÇÀu
Gái th©i ti‰t hånh là câu trau mình (câu 5-6)
ho¥c:
Làm ngÜ©i cho bi‰t ngãi sâu
G¥p cÖn hoån nån cùng nhau cho tròn (2071-2072)
Ngoài ra, trong câu truyŒn, ngÜ©i džc có th‹ nhÆn ra bao nhiêu nghÎch cänh mà Løc Vân Tiên Çã trãi qua . Con ngÜ©i nhÜ vÆy có chÌ sÓ AQ rÃt cao . Th‰ nào là AQ ? Ta chÌ thÜ©ng nghe nói ljn chÌ sÓ IQ (Ƕ trí tuŒ, intelligence quotient), chÌ sÓ EQ ( cäm xúc, emotional quotient) nhÜng gÀn Çây các nhà tâm lš h†c m§i bày thêm m¶t chÌ sÓ khác n»a, Çó là chÌ sÓ AQ(adversity quotient). ChÌ sÓ này cho thÃy nhiŠu ngÜ©i có th‹ chÓng ch†i ÇÜ®c nghÎch cänh Ç‹ vÜÖn lên, vÜ®t qua sÓ phÆn mà ÇÎnh mŒnh Çã cay nghiŒt Çè n¥ng lên mình :
                             XÜa nay nhân ÇÎnh th¡ng thiên cÛng nhiŠu
 Løc Vân Tiên chính là m¶t ngÜ©i có AQ cao vì g¥p phäi toàn ngÜ©i ác Ƕc tinh ma nhÜ TrÎnh Hâm, nhÜ Võ Công, mà bŠn lòng, Çû can trÜ©ng vÜ®t qua thº thách. NhÜng phäi thÃm nhuÀn trong khí quy‹n væn hoá PhÆt giáo v§i nhÅn nhøc, tinh tÃn, con ngÜ©i Løc Vân Tiên m§i vÜ®t qua ÇÜ®c m†i nghÎch cänh  vÆy.
                                  
                                   ThÜ tÎch tham khäo
DÜÖng Quäng Hàm .ViŒt-Nam væn h†c sº y‰u  .B¶ Giáo døc. Trung Tâm H†c LiŒu xuÃt  bän Saigon 1968
Ca væn Thinh, NguyÍn sÏ Lâm, NguyÍn thåch Giang. NguyÍn ñình Chi‹u toàn tÆp .Nhà xuÃt bän ñåi h†c và Trung h†c chuyên nghiŒp. Hanoi 1980









[1] VÜng: ÇÒng tình phù h¶ cho
[2] Doi: däi ÇÃt d†c sông
[3] Câu dÀm: thä mÒi ngâm lâu dܧi nܧc Ç®i cá æn

Nước và con người






                        Nước và con người

                                                         Thái Công Tụng


This paper examines the nature, properties, place, significance, importance, and role of water in the life and culture of this planet


1.Tổng quan
Các nhà hiền triết Hi Lạp cổ đại, từ Platon đến Socrate xem Nước là nguồn gốc của mọi nguồn gốc.Theo Phật giáo thì vũ trụ  do bốn cái lớn trong vũ trụ: đất, nước, gió, lửa, còn gọi là Tứ Đại. Triết học Trung Hoa cho rằng nước là một trong năm yếu tố gọi chung là Ngũ hành: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ.
Nước vừa mềm mại, uyển chuyển nhưng có sức mạnh phi thường vì các địa mạo ta thường gặp như thung lũng, đèo cao, núi thẳm, châu thổ v.v. đều do nước bào mòn, chuyển vận, lắng tụ, bồi tích. Sách Thánh Kinh có nói về trận hồng thủy .Thần thoại nước ta cũng nói về Sơn Tinh, Thủy Tinh. Sử sách Việt nói về Lạc Long Quân .Theo giáo sư Lê Hữu Mục, thì các từ Lạc phải đọc là Đác và chữ Đác với thời gian trở thành Nác . Nác chính là từ cổ của chữ Nước ta nói ngày nay. Thực vậy, nhiều vùng thôn quê ở Nghệ, Tỉnh, Quảng Bình, Quảng Trị  vẫn còn nói: uống nác (uống nước), khát nác (khát nước) .Nhiều nhà văn hoá học Việt đều cho rằng nước là một đặc trưng hình thái của tư tưởng Việt Nam hay nói tổng quát hơn, của văn hoá Việt Nam
c liên quan đến nhiu chc năng trong cơ th: s tiêu hoá, s tun hoàn, s hô hp, s thi hi. Các nhà khoa hc dùng nưc đ tìm ra các hng s quan trng v vt lý nh ư:
-nưc đông đc 0 đ
-nưc sôi khi nhit đ là 100 đ C
-1 lít nưc cân nng 1 kgam
-t trng ca nưc là 1 . Vt nào có t trng ln hơn 1 thì chìm và vt nào có t trng nh hơn 1 thì ni . Nưc có mt c ba dng vt lý : lng, đc và hơi.
   
Với dân số bùng nổ kéo theo một loạt nhu cầu về nước sinh hoạt, nước dùng trong kỹ ngh ệ v.v. nên tài nguyên nước trở thành một tài nguyên qúy giá của nhân loại.  Bài này trình bày về bản chất, tính chất, vị trí nước,  ý nghĩa, sự quan trọng và chức năng của nước trong đời sống và văn hoá của hành tinh này.
2 .Nước trong văn học Việt
-Trong văn hc dân gian, nhiu tc ng liên quan đến nưc :
 c chy đá mòn, nói lên s kiên nhn;  c đ  lá môn ng ý nói không ai nghe;
Sống về gạo, bạo về nước, cho thấy hai  nhu cầu thiết yếu của con người để duy trì sự sống. Thuyết  nhân quả  của nhà  Phật cũng được diễn tả  trong câu: Đời cha ăn mặn, đời con khát nước.
Trong công vic đng áng thì nưc rt cn thiết nên ta thưng nghe ca dao:
Ly Tri mưa xung, Ly c tôi ung, Ly rung tôi cày, Ly rơm đun bếp.
Công vic trng lúa đòi hi phi có nưc:
Tri đông, c đã phơi b
Em v nh m, anh ba rung chiêm
Công cha nghĩa m cũng dùng nưc đ so sánh:
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa m như c trong ngun chy ra

Li m ru con cũng có nhiu câu có chc:
Ru con con ng cho lành
Đ  m gánh c ra bành ông voi
Mun coi lên núi mà coi
Coi bà Triu tưng cưi coi bành vàng

. -Trong văn chương bác hc, nói v sc đp ca ph n cũng dùng biu tưng nưc như nghiêng c nghiêng thành hoc mây thua c tóc, tuyết nhưng màu da .
Ni nh  nhà , nh  c đưc din t  trong câu :
Bun trông ngn c mi  sa
Mây trôi man mác biết là v đâu (Kiu)
Th nguyn cũng dùng nưc:
Còn non, còn c, còn dài
Còn v còn nh  đến  ngưi hôm nay (Kiu)
Làm gì cũng phi có kế hoch, không đi ‘c đến chân mi nhy’:
Lánh xa trưc liu tìm đưng
Ngi ch c đến nên dưng còn quê (Kiu)
Nguyn Khuyến t cnh ao làng vào mùa thu :
Ao thu lnh lo c trong veo
Mt chiếc thuyên câu bé t  teo
c trong, không ô nhim trong câu thơ ca Chinh Ph ngâm:
Ngoài đu cu c trong như lc
Đưng bên cu c mc còn non
Nhưng vưt lên ca dao, tc ng, nưc là mt tài nguyên quan trng vì nước là một chất   không thể thiếu được trong sự sống của loài người, t động vt đến thực vật; là chất đảm bảo sự cân đối của những vận động tuần hoàn không những của trái đất vĩ mô mà còn cả những chuyển hóa vi mô trong từng tế bào là đơn vị nhỏ nhất của động vt và thực vật.

3. Nước trong đời sống.
 Nước là chất cơ bản, cái nôi của sự sống. Nước quan trọng trong đời sống thực vật. Tục ngữ ta có câu: Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống chứng tỏ tầm quan trọng của nước.  Nước hoà tan các dưỡng liệu trong đất thì rễ cây mới hút được để chuyển tải lên các bộ phận hoa lá trong cây . Không có nước thì không có sự quang hợp tạo ra các hydrat cacbon . Để làm ra 1 kg chất khô, cây bắp cần 350 lít nước, khoai tây cần 575 lít, lúa  cần trên 2000 lít v.v.Nước cũng quan trọng trong đời sống động vật. Cũng như trong thực vật, nước giúp  cho sự luân lưu, cho sự trao đổi chất: 60 đến 70% trong cơ thể con người là nước nên khát nước dễ chết hơn khát ăn. Nước cũng cần cho các hoạt động kỹ nghệ: sản xuất thép, sản xuất chip điện tử, sản xuất tơ nhân tạo cũng cần nhiều nước và dĩ nhiên sản xuất bia, nước Coca, nước ngọt là từ nước . Nước cũng ảnh hưởng đến khí hậu và là nguyên nhân tạo ra thời tiết như mưa, tuyết, bão. Năng lượng mặt trời sưởi ấm không đồng đều các đại dương đã tạo nên các dòng hải lưu như dòng Gulf Stream vận chuyển nước ấm từ vùng nóng đến Bắc Đại Tây Dương làm khí hậu các xứ Bắc Âu ấm áp hơn .

4. nước trên quả địa cầu
Trên hành tinh Trái Đất này, mặt trời và nước giúp duy trì cuộc sống. Hơn 70% diện tích của Trái Đất được bao phủ bởi nước (đại dương,  biển kín). Chính vì  vậy mà  trái đất nhiều nước mặn (97%) hơn nước ngọt. Nhưng phần lớn nước ngọt lại nằm ngoài tầm tay của con người vì nằm trong các băng hà ở miền cực địa cầu (2.7%) hoặc dưới tầng đất ngầm và ẩm độ trong đất, còn lại rất ít  là nước ngọt chứa trong sông, suối, hồ, ao là thực sự sử dụng được cho con người . Nói khác đi, nước ngọt là một tài nguyên có giới hạn. Ngoài ra, nước lại không được phân bố đồng đều trên Trái đất: vùng Amazonie nhận được 20% lượng mưa trên toàn thế giới chỉ cho 10 triệu người, vùng Bắc Phi và Trung Đông với 400 triệu người lại chỉ hưởng được 1,5%.
Cũng từng đó nước từ hàng ngàn năm trước, nhưng cái khác là ngày nay, dân đông hơn, cần nhiều  nước hơn để sử dụng vào nhiều mục đích hơn: nước dùng trong sinh hoạt,  trong kỷ nghệ (thủy điện, kỷ nghệ các loại), trong nông nghiệp để sản xuất lương thực v.v. Theo Hội đồng nước toàn cầu, tiêu thụ nước trong nông nghiệp là 66%, công nghiệp (20%), các hộ gia đình (10%) và khoảng 4% bốc hơi từ các  hồ dự trữ nước nhân tạo. Tế bào sống hầu như  3/4 là nước và không nước, con người sẽ mau chết hơn là không ăn. Như vậy, nước là nguồn tài nguyên vô giá của con người. Những xứ có tài nguyên nước dồi dào phải kể là những xứ như Canada, Nga, Mỹ, Bresil, Indonesia, Đông Dương còn các xứ ít có tài nguyên nước nằm các vùng sa mạc như Úc châu hoặc các xứ Sahel. Một vài vùng trên thế giới thiếu nước vừa phải là các vùng quanh bờ Địa Trung Hải như Ý, Hi Lạp, Bắc Phi, Ai Cập.
5. chu kỳ nước. Trong bài thơ Thề non nước của Tản Đà, có câu: Nước trôi ra biển lại mưa về nguồn. Câu thơ này vô hình chung đã nói về chu kỳ nước trong vũ trụ : nước từ sông, hồ, biển bốc hơi lên cao, gặp lạnh trên cao sẽ ngưng đọng lại và rơi xuống đất. Khi gặp mặt đất thì nước một phần thấm vào lòng đất qua các khe đá, lổ hổng của đất và tạo thành nước ngầm, một phần chảy tràn để chảy vào sông suối rồi trở lại ra biển .


Như vậy, nước cứ luân hồi mãi mãi, từ kiếp này sang kiếp khác, vô thủy vô chung từ lúc Trái Đất thành hình cách nay hàng ngàn triệu năm và nhờ nước mới có đời sống thực v ật, rồi mới có đời sống động vật.

6. Tài nguyên nước .

Có thể phân loại tài nguyên nước thành 4 loại sau đây:
61.nước mưa . Có những vùng mưa nhiều, đặc biệt các vùng có khí hậu xích đới. Sau đây liệt kê vài xứ có lượng mưa nhiều nhất thế giới : Colombia (Trung Mỹ), Liberia (Phi châu), Myanmar tức Miến Điện (Á châu), Papua New Guinea, Bangladesh (Á châu) có lượng mưa trung bình hàng năm trên dưới 4000 mm
Nhưng cũng có những xứ ít mưa như Iran, Afghanistan, các xứ Arập ở Trung Đông. Lục địa Úc châu khô hạn chỉ 800 mm mưa mỗi năm.

Vùng Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng , vì nằm vùng khí hậu  gió mùa nên lượng mưa trung bình hàng năm khá cao: 1800 mm . Tuy nhiên cũng có những vùng khuất gió thì mưa ít hơn như đồng bằng 3 Phan: Phan Rang, Phan Rí, Phan Thiết . Ngoài ra, nước mưa không rãi đều trong năm vì chỉ tập trung vào các tháng mưa còn mùa kia thì nhiều nơi không có tí mưa, thêm vào gió Lào khô ráo, khiến nhiều vùng thiếu nước.

62 .nước mặt. Đây cũng là tài nguyên nước mặt có trên các sông, suối, hồ ao, kinh rạch ..Nước sông suôi hồ ao được sử dụng trong nhiều đối tượng khác nhau như phục vụ sinh hoạt (nấu cơm, tắm rửa, giặt ), phục vụ nông nghiệp (tưới cây, nuôi cá, chăn nuôi), phục vụ kỷ nghệ (các công nghệ chế biến, sản xuất giấy, thuộc da, phân bón..)

Nước ‘cứng’  (hard water) là nước chứa nhiều ion Calci và magnesi. Khi đun nước loại này thường bị đóng váng vôi, tức là một kết tủa cacbonat calci . Nước ‘mềm’ là nước không có nhiều chất Calci và magnesi.

Nước cứng cũng không dùng để pha chế thuốc vì có thể gây kết tủa làm thay đổi thành phần của thuốc. Khi dùng nước cứng nấu thì rau, thịt khó chín; làm mất vị của nước chè. Giặt bằng nước cứng tốn xà phòng do Ca2+ làm kết tủa gốc axit trong xà phòng và làm xà phòng không lên bọt. Nhiều công nghệ hoá học đòi hỏi nước có độ cứng nhỏ  do đó nếu n ước chứa nhiều Calci và magnesi thì phải làm mềm nước cứng bằng cách cho kết tủa các chất Ca và Mg với sođa (Co3Na2) hoặc tách chúng bằng nhựa trao đổi ion (ion exchange resin). Trong nhựa trao đổi ion, những hạt mang điện tích trái dấu sẽ hút nhau như các cation sẽ hút các ion âm tức anion và ngược lại.
63 nước  ngầm. Nước từ các nguồn nước mưa, sông, rạch, ao, hồ.. một phần thấm vào đất, nhưng không thể ngấm qua tầng đá dưới sâu nên nước tập trung nhiều ở tầng nước dưới đất . Đào giếng chính là để khai thác nước dưới đất dùng trong sinh hoạt. Tại đồng bằng sông Hồng cũng như đồng bằng sông Cửu Long, nhà nào cũng đào giếng để có nư ớc sinh hoạt . Ngoài ra, nông dân cũng đào giếng, khoan giếng sâu để lấy nước ngọt tưới rau màu, pha loãng với nước mặn để nuôi tôm v.v. Chính vì vậy mà hiện nay mực nước ngầm hạ xuống quá sâu kéo theo một số hậu quả: mặt đất sụt lún xuống, nước mặn xâm nhập vào túi nước ngầm, chưa kể nguy cơ nhiễm độc asen (thạch tín), ảnh hưởng lâu dài đến sức khoẻ người dân. Ngoài ra, phẩm chất nước ngầm cũng bị ô nhiễm do các chất ô nhiễm trên mặt đất trôi chảy xuống: nitrat, phenol, thuốc trừ sâu, phân hoá học
64 nước mặn.  Nước mặn ngoài biển có hàm lượng muối trung bình là 35gram cho mỗi kg nước biển và gồm 6 chất: sodium (Na+), chlorua (Cl-), sunfat (SO4 2-), magnesium (Mg 2+), calcium (Ca2+) và potat (K+). pH nước biển biến thiên từ 7.5 đến 8.4: nước biển có môi trường hơi kiềm. Tuy hàm lượng muối trung bình là 3.5% ( 35 gram/lit ), nhưng các biển kín thì nồng độ muối cao hơn:
Biển Đỏ, còn gọi là Hồng Hải thì vì vùng ít mưa, bốc hơi cao, ít sông ngòi chảy vào thì nồng độ muối cao hơn: 40g/l  .
Biển Chết ở giữa Jordanie và Do Thái còn có độ mặn rất cao, đến 330g/lit  vì là biển kín. Gọi là biển nhưng thực ra đó chỉ là một cái hồ lớn nằm ở vùng sa mạc phía Đông Nam Israel. Gọi là Biển Chết vì nước ở hồ này rất mặn, đến mức không một sinh vật nào có thể sống nổi.. Hồ này rộng 1.040 km2, mặt hồ thấp hơn 400 mét so với mặt nước biển nên là điểm thấp nhất của bề mặt trái đất.
Ngoài ra,  ở các cửa sông, nơi có sự hoà lẫn giữa nước ngọt và nước mặn, còn gọi là vùng giáp nước thì nồng độ muối giảm nhiều : ta gọi đó là  nước lợ. Nước lợ chứa từ 1 đ ến 10 gram muối trong mỗi lít và các loại muối trong nước lợ có những chất như CaSO4, MgCO3, NaCl tùy các vùng đất nước chảy qua
7.Vai trò của nước.  c có 4 vai trò sau đây:
-cung cấp: nước cung cấp thực phẩm cho nhân loại. Nước ngọt, nước lợ, nước mặn, đều có thuỷ sản, hải sản rất phong phú và đa dạng như tôm, cua, cá, ếch, ba ba, rùa .Nước giúp hoà tan các dưỡng liệu trong đất để thực vật lớn nhỏ có thể nhờ đó mà sinh trưởng.. -điều hoà khí hậu: các dòng hải lưu ngoài biển ảnh hưởng đến điều hoà khí hậu: ví dụ dòng Gulf Stream đem hơi ấm cho các vùng miền Bắc Âu Châu
-văn hoá (tâm linh, giải trí ..)
Cần lưu ý là nước, ngoài khía cạnh giá trị vật chất, phải được xem có giá trị tinh thần vì hồ ao, sông suối có tác động thẩm mỹ, thông thoáng, giúp con người bớt các căng thẳng của cuộc sống xô bồ ngày nay. Thực vậy:
.tình yêu nẩy nở bên cạnh dòng suối:
Dưới cầu nưóc chảy trong veo /Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha (Kiều)
.cuộc biệt ly cũng bên cạnh dòng sông:
Đưa người ta không đưa sang sông/ Sao có tiếng sóng ở trong lòng? (Thâm Tâm)
Đò chiều sông lạ tiễn đưa nhau/Gió nấc từng cơn, sóng vật đầu/Hai ngả lênh đênh trời ngụt khói/Người đi, ta biết trở về đâu ? (Vũ Hoàng Chương)
.nỗi nhớ  khi nhìn con nước thủy triều lên xuống:
Lòng quê dờn dợn vời con nưóc/Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà (Huy Cận)
.nhớ chồng đi ngoài biên ải : Nước có chảy mà phiền khôn rửa/ Cỏ có thơm mà dạ chẳng khuây (Chinh Phụ Ngâm )
. thư giãn tĩnh mịch nơi chốn non xanh, nước biếc:
Côn Sơn có suối nước trong
Ta nghe suối chảy như cung đàn cầm
Côn Sơn có đá tần vần
Mưa tuôn đá sạch ta nằm ta chơi
(Nguyễn Trãi trong Côn Sơn ca -Bản dịch của Nguyễn Trọng Thuật)
Sông ngòi luôn luôn là nguồn cảm hứng vô tận cho thơ, văn, nhạc. Những bài thơ Đường của Lý Bạch, của Thôi Hiệu, bài Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị, bản nhạc Dòng Sông Xanh đều lấy sông làm nguồn cảm hứng.
Riêng văn học dân gian cũng có nhiều điệu hò trên sông nước. Vì sự vận chuyển hàng hoá bằng ghe thuyền đòi hỏi chèo chống khó nhọc nên để bớt vất vả khi chèo đò, nhiều loại hò ra đời với nội dung rất phong phú,  phản ánh phong cảnh thiên nhiên, mối tình trai gái v.v. Cùng với mái chèo cất nhịp, những lời ca giàu tính chất trữ tình giúp cả khách lẫn trai chèo quên đi những nhọc nhằn, nỗi lạnh lẽo tịch mịch của đêm truờng. Văn học dân gian được  phong phú thêm với những hò Huế, hò Quảng, hò sông Mã v.v.
Dòng sông ở Huế với  nhiều điệu hò: mái nhì, mái đẩy, dô hậy, đẩy nôốc là những thể hò dân gian trên sông nước.
Tiếng hò của mối tình ngang trái:
Nước chảy xuôi, con cá buôi lội ngược
Nước chảy ngược, con cá vượt lội ngang
Thuyền em xuống bến Thuận An
Thuyền anh lại trẩy lên ngàn anh ơi !

Câu hò mái nhì gợi nhiều rung cảm do tình yêu đôi lứa:
Nước đầu cầu, khúc sâu khúc cạn
Chèo qua Ngọc Trản, đến mạn Kim Long
Sương sa gió thổi lạnh lùng
Sóng xao trăng lặn, gợi lòng nhớ thương
Trong mọi tôn giáo, từ Ấn độ giáo, Phật giáo đến Công giáo, Hồi giáo, đều dùng nước làm biểu tượng . Vì nước là căn nguyên đầu tiên của vũ trụ, nên trong mọi tôn giáo luôn luôn có nước. Ấn độ giáo thì nước sông Hằng ở đó trong nhiều lễ hội hàng chục ngàn người nhảy xuống tắm để gột rửa mọi phiền não; ở Công giáo thì  nước dùng trong bí tích rửa tội; ở Hồi giáo thì phải rửa tay, rửa ngón chân trước khi lạy về hưóng thánh địa La Mecque; ở Phật giáo thì trong các lễ vật để dâng lên  cúng vái ông bà trên bàn thờ không thể thiếu chén nước .Nước cũng sử dụng trong lễ tắm Phật các ngày Phật đản. Một bộ kinh như kinh Thủy Sám có nói về nước chữa bệnh .
 Nhìn nhng cnh sông nưc, bát ngát ca đt tri, con ngưi cht nhn ra s cn thiết ca im lng, ca tĩnh ti, nó giúp  nhen nhúm ngn la  tâm lý và năng lưng này, tc tâm năng giúp chuyn hoá thành năng lưng vt lý ; nói khác đi tâm năngđng năng/th năng có tác đng  thun nghch cũng như gia đc tin và lý trí b túc cho nhau.  Chúng ta cm thy s buông x cho dòng nưc cun trôi đi mi phin não tht cn thiết.
Nước tượng trưng cho sự vô thường: dòng nước thay đôi liên tục vì giọt nước này tiếp nối giọt nước kia, tạo thành dòng chảy. Tâm của ta cũng vô thường như dòng sông nghĩa là chuyển động tiếp nối, khi vui khi buồn, khi nghĩ đến quá khứ, lúc nghĩ đến tương lai . Sự lưu chuyển của tâm ta như nước chảy không ngừng . Khổng Tử thấy dòng nước lững lờ trôi cùng năm tháng: thị giả như tư phù, bất xả trú dạ ( Luận -ngữ, IX, 16 ): cứ chảy hoài như vậy, đêm ngày không bao giờ ngừng.

Nước tượng trưng cho sự vô trụ ; nó không vướng mắc mà cứ lững lờ chảy, biết buông xả, không chấp trách
Nước tượng trưng cho sự vô ngã, vì nó khiêm tốn, nó nhận mọi ô nhiễm.

-yễm trợ : nước giúp cho các hoạt động yểm trợ du lịch  cũng như  y tế. Nói về vai trò của nước trong các hoạt động du lịch, ta có thể kể du lịch biển, du lịch sông ngòi. Nói về vai trò  yễm trợ  trong các hoạt động y tế, có thể nói về  các suối nước nóng mà xứ nào cũng có . Riêng ở Việt Nam, tại  Khánh Hoà có nhiều suối  nóng có  nhiều chất khoáng, giúp trị bệnh . Ngoài suối nước nóng còn có nước suối lấy ở  các vùng nhiều chất khoáng, cho vào chai để uống như nước khoáng Vĩnh Hảo là nước khoáng duy nhất của Việt Nam có hàm lượng Bicarbonat (HCO3) cao. Ngoài ra, còn có một số nguyên tố vi lượng có ích khác, có tác dụng bồi bổ cơ thể rất tốt, giúp tiêu hóa và lợi tiểu, làm đẹp làn da và hỗ trợ trị bệnh đau dạ dày.
Nước tạo ra năng lượng thuỷ điện, giúp cho các hoạt động kỹ nghệ (đồ uống, bột giấy, bauxit,  ), chuyển vận (ghe, đò, tàu thuyền). Nước giúp cho sự tạo thành đất. Thực vậy, nước chuyên chở các trầm tích từ nhiều lưu vực để bồi đắp phù sa, nước bào mòn các loại đá làm đá bể rời ra nhanh chóng, giúp cho sự phong hoá hoá học dễ dàng hơn .

8. Ô nhiễm nước .
Nhiều nguồn nước bị ô nhiễm do nước thải từ các ngành kỹ nghệ khác nhau cũng như nước thải sinh hoạt không được xử lý đổ thẳng xuống sông nên nhiều loại cá tôm..trên  sông ngòi chết dần.
Sau đây là các tiêu chuẩn để đánh giá nguồn nước bị ô nhiễm bởi các chất hữu cơ:
-BOD 5 tức biological oxygen demand,-nhu cầu ôxy sinh học-là lượng ôxy được sử dụng cho hoạt động sống của vi sinh vật để phân hủy hết các chất hữu cơ không bền vững trong 1 lít nước (mg O2/ l) trong 5 ngày; người ta lấy thời gian 5 ngày để xác định nhu cầu oxy sinh học và gọi là BOD5 vì thông thường sau thời gian 5 ngày ở 20o thì phần lớn các chất hữu cơ dễ phân hủy sẽ bị phân hủy. Trong nước càng ô nhiễm nhiều (lượng chất hữu cơ nhiều) thì lượng BOD5 càng cao. Thông thường thì nước dùng cho sinh hoạt phải có BOD5 nhỏ hơn 4 mg/ l; nước dùng cho thủy sản thì BOD5 phải nhỏ hơn 10 mg/ l. Nếu BOD5 lớn hơn 10 mg/ l thì xem như nước bị ô nhiễm hữu cơ rõ rệt.
-COD, tức chemical oxygen demand,-nhu cầu ôxy hoá học-, là lượng oxy cần thiết để phân hủy hết các chất hữu cơ có trong nước theo con đường hoá học. Nồng độ COD cho phép đối với nguồn nước mặt là COD lớn hơn 10 mg/l
Khi BOD và COD cao, điều đó có nghĩa là nồng độ oxy hoà tan trong nước bị giảm, hậu qủa là tôm cá trong ao, hồ sẽ chậm phát triển hoặc chết. Ngoài ra, trong các điều kiện kị khí, yếm khí, các chất hữu cơ phân hủy sinh ra mùi hôi thối; thực vậy mùi bùn  hôi tanh ( hoa sen 'gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn') là do sự phân hủy các chất hữu cơ.
-DO, tức dissolved oxygen,-nồng dộ oxy hoà tan- là lượng oxy tự do ở dạng hoà tan trong nước. DO trong nưóc uống  không được nhỏ hơn 6 mg/l. Lượng oxy trong nuớc là yếu tố quan trọng của nước để tự làm sạch nhờ hoạt động các vi sinh vật hiếu khí . Khi BOD và COD qúa cao sẽ làm giảm DO và nếu DO giảm sẽ tạo điều kiện  cho các vi sinh vật yếm khí họat động, gây ra nhiều H2S tạo mùi hôi thối cho các vùng bị ô nhiễm.         
9. Nước và phát triển bền vững .
Nước đóng góp rất lớn vào mọi khía cạnh của nền kinh tế, đặc biệt là nước ngọt vì từ nông nghiệp đến kỹ nghệ đều cần loại nước này: tưới cây, chế biến trong kỹ nghệ thực phẩm, sản xuất trong hầm mỏ, kỹ nghệ giấy . Thiếu nước sẽ làm tê liệt các ngành hoạt động trên . Sự gia tăng dân số, sự phát triển kỹ nghệ sẽ ngày càng tác động mạnh đến môi trường  nước (dân số tăng lên một lần, nhu cầu nước tăng lên ba lần), do đó tài nguyên nước phải cung ứng nhiều hơn cho dân số tăng không những về lượng mà còn về phẩm. Muốn thế, phải tăng sự tái chế biến nước (water reycling) và tiết kiệm  tài nguyên này, nghĩa là không xài phung phí nước. Nước tái chế biến là nước thải trong các ống cống nhưng đã được xử lý vứt bỏ  các chất cứng và vài chất dơ để dùng lại trong tưới cây, tưới vườn, tưới sân golf, xe chữa lửa  v.v. Tiết kiệm nước có thể là theo tuần tự: rửa mặt- giặt giũ- rửa chân tay, cuối cùng mới dùng cho nhà vệ sinh. Từ đó lượng nước sử dụng đã giảm một nửa.  Tiết kiệm nước tưới trong nông nghiệp như sử dụng nước nhỏ giọt (drip irrigation), tưới đúng chỗ, đúng kỳ, như tráng xi măng trên các mương dẫn nước, như vậy vừa bớt hư hao nước, vừa bớt cỏ dại ven mương Một công nghệ tái chế biến nước càng ngày càng ứng dụng (như ở thành phố Luân Đôn và Singapour ) là thẩm thấu ngược (reverse osmosis). Thẩm thấu là một hiện tượng tự nhiên: nước bao giờ cũng chuyển dịch từ nơi có nồng độ muối khoáng thấp đến nơi có nồng độ cao hơn và quá trình diễn ra đến khi nồng độ muối khoáng từ 2 nơi này cân bằng. Trong thẩm thấu ngược, người ta phải dùng một áp lực đủ để đẩy ngược nước từ nơi có hàm lượng muối cao ‘thấm’ qua một loại màng đặc biệt để đến nơi có ít muối khoáng hơn.
Ngoài ra, bảo vệ tài nguyên nước cũng bao hàm  phải chú trọng các vùng núi non hiểm trở vì chính các vùng này là nguồn phát sinh ra nước của dòng sông: đó là những tháp nước đưa nước về miền hạ lưu . Bảo vệ như không phá rừng đầu nguồn mà trái lại lo làm giàu thêm như tổ chức du lịch sinh thái, bảo tồn đất đai chống xói lở, giúp phát triển kinh tế  các bộ tộc sinh sống . Cũng cần lưu ý là xử lý ô nhiễm phải làm trên toàn lưu vực một dòng sông vì nếu chỉ thực hiện chống ô nhiễm nước thải các nhà máy ở hạ nguồn mà trên thượng nguồn, nước ô nhiễm vẫn chảy về thì xem như vô ích.
Để tóm lược, nước là một tài nguyên con người phải trân quý, không để các dòng sông từ từ chết mòn, chết dần với các ô nhiễm vì ô nhiễm nước sẽ gây tác hại đến tuổi thọ loài người. Ngoài an ninh lương thực, ta còn phải chú ý đến an ninh nguồn nước sinh hoạt, vì về lâu về dài, dân số đông, nhu cầu nước nhiều, nếu không kiểm soát được ô nhiễm nước thì sẽ gây gánh nặng y tế như ung thư, dịch tả v.v.

10 . Tuyên ngôn về nước
Như trên đã viết, nước ngọt đóng nhiều vai trò cực kỳ quan trọng trong sinh hoạt, trong an ninh lương thực, trong sản xuất kinh tế . Tuy nhiên nhiều dấu hiệu cho thấy nước ngọt càng ngày càng hiếm có thể vì nhiều nguyên nhân: dân só tăng, thất thoát nước trong đường chuyển vận, ô nhiễm nước, hạn hán và sa mạc hoá, nước mặn xâm nhập, phá rừng, nước ngầm  tụt sâu do khai thác nước giếng quá mức .Thực vậy, vài con số cho thấy vài vấn nạn của tài nguyên nước trên thế giới ngày nay:
* Hơn 1/6 dân số toàn cầu thiếu nước sinh hoạt. Phụ nữ nhất là ở Châu Phi phải  đội các bình nước đi bộ hàng cây số lấy nước nên không thể tham gia vào công việc nông nghiệp, kéo thêm nạn nghèo đói .
* 2,5 tỉ người, gồm gần 1 tỉ trẻ em, sống mà không có những điều kiện vệ sinh cơ bản, cứ 20 giây thì có một trẻ chết vì vệ sinh kém, nhất là do  bệnh dịch tả. 
* Ở các nước đang phát triển, 70% chất thải công nghiệp đổ thẳng vào nguồn nước không qua xử lý.
* Mỗi ngày, một người cần 2-4 lít nước để uống nhưng cần 2.000-5.000 lít nước để sản xuất ra thực phẩm hằng ngày cho một người.
* Vào năm 2025, 1,8 t ngưi s sng các quc gia và các khu vc hoàn toàn thiếu nưc, 2/3 dân s thế gii s rơi vào tình trng căng thng vì thiếu nưc.
* Tiêu thụ nước không đồng đều tùy theo mức phát triển: 3000 m3/dân/năm ở các xứ Âu Ch âu; 10 000m3/dân/năm ở Hoa Kỳ; 200m3/dân/năm ở các xứ đang mở mang như Ethiopie, Angola

Riccardo Petrella, một nhà xã hội học người Ý cùng với một số thức giả khác thường được nhiều người gọi là nhóm Lisbonne (Portugal) đã ra một Tuyên Ngôn về Nước (water manifesto) trong đó minh xác nước không phải là món hàng trao đổi được mà là một di sản chung của nhân loại. Tuyên ngôn cho rằng quyền tiếp cận với nước ngọt và sạch là một quyền cơ bản của con người  . Không phải người giàu có tiền mà có thể hưởng thụ tài nguyên nước nhiều hơn người nghèo. Nông nghiệp, kỹ nghệ, sinh hoạt hàng ngày đều dựa vào nước . Tuyên ngôn  minh xác  nước là một chất không thể thay thế được nên mọi người và mỗi người đều có quyền cơ bản có nước uống cả phẩm lẫn lượng cần thiết cho cuộc sống  và mọi công dân trên thế giới đều có nghĩa vụ hợp tác trong quản lý tài nguyên nước, tôn trọng quyền các thế hệ tiếp nối  giữ gìn di sản chung.

11. Vài đại lượng cần biết trong thủy lợi
Tài nguyên nước bao gồm cả nước mặt do mưa rơi xuống sông, suối, ao hồ và nước ngầm.  Nước ngầm cũng phụ thuộc vào lượng nước mưa rơi và tính chất thấm nước của đất đá .
Thủy lợi là khoa học tổng hợp nhằm đánh giá, khai thác sử dụng hợp lý và bảo vệ tài nguyên nước và bao gồm đánh giá và quy hoạch nguồn nước; khảo sát và thiết kế, xây dựng công trình; quản lý lưu vực; chỉnh trị sông, bờ biển.
Thủy văn (hydrologie ) là lĩnh vực nghiên cứu khoa học về nước thông qua quan trắc, phân tích và công thức hoá . Cũng là khoa học ứng dụng nhằm điều khiển và sử dụng nước. Chế độ thủy văn  dao động theo mùa về mực nước, về dòng chảy, về thành phần và nồng độ các chất hoà tan, sự thay đổi lòng sông
Bốc thoát hơi nước là lượng nước bốc hơi từ mặt đất và thoát hơi từ câỵ Do giá trị thực tế của lượng hơi nước bốc ra từ đất và từ cây rất khác nhau, tùy theo tính chất đất, hàm lượng nước, thảm cây che phủ đất nên các nhà khoa học đề nghị một lượng bốc thoát hơi nước tiềm tàng (évapotranspiration potentielle) để dễ so sánh. Bốc thoát hơi nước tiềm tàng là lượng nước tối đa thoát ra từ  một thảm thực vật thấp và dày đặc đồng đều không bị hạn chế và bốc hơi từ đất lên, khi lượng nước cung cấp hoàn toàn bảo đảm trong những điều kiện khí hậu thổ nhưỡng nhất định.
Lưu vực sông (bassin versant; watershed) là  vùng lãnh thổ mà sông nhận được nước nuôi dưỡng. Có vài sông lưu vực lớn ở Viet Nam như sông Mekong, sông Hồng v.v. Trong thủy lợi, diện tích lưu vực sông được tính từ nguồn đến vị trí công trình tính toán.. Ví dụ: sông Đà có diện tích lưu vực là 52 900 km2, nhưng sông Đà ở Hoà Bình thì lưu vực là 51 800 km2.
Đoạt giang (river piracy). Đầu nguồn một dòng sông có thể do xói mòn lùi ngược và đoạt  nước thượng nguồn của một dòng sông thuộc lưu vực khác. Một vài sông miền Trung đã do xói mòn vào đường phân nước nên đã ăn vào phần thượng nguồn dòng sông lưu vực bên Lào .
 Lưu lượng dòng sông (débit )
Lưu lượng nước là lượng nước chảy qua một mặt cắt ngang của lòng dẫn hoặc ống dẫn trong một đơn vị thời gian một giây. Đơn vị tính thường là m3/sec hay lit/sec.
Lưu lượng biến thiên theo thời gian:
Mùa lủ muộn dần từ Thanh Hoá đến Phan Thiết.
Mùa lũ ở Sông Chu : tháng 6- 10; sông Cả: tháng 8 -11; sông Gianh : tháng 9- 11. Từ Thừa Thiên đến Khánh Hoà: từ tháng 10 đến tháng 1 năm sau. Từ Phan Rang đến Hàm Tân (Bình Tuy/Bình Thuận), mùa lũ xuất hiện tháng 7- 12
Lưu lượng  lớn nhất của con lũ phụ thuộc chủ yếu vào cường độ, thời gian mưa và đặc tính lưu vực.
Mùa cạn là lúc lưu lượng dòng chảy thấp, giảm đến đáng kể. Nhiều dòng sông nhỏ có thể lội qua được. Sông Chu có mùa cạn từ tháng 11 đến tháng 5; sông Cả từ tháng 12 đến tháng 7; sông Gianh từ tháng 12 đến tháng 8. Từ Huế vào, mùa cạn từ tháng 2 đến tháng 8.
Nhiều tỉnh miền bắc Trung Việt như Thanh, Nghệ, Tỉnh, Bình, Trị bị thêm gió Lào nóng thổi từng cơn ác liệt vì hiện tượng foehn , sự bốc thoát hơi của đất và của cây rất mạnh; có khi hạn hán kéo dài không trồng hoa màu được ; nhiều hồ thủy điện bị khô nước.
Mật độ lưới sông là tỉ số giữa tổng số độ dài của tất cả sông suối trong hệ thống sông trên diện tích lưu vực. Trong khi miền Châu thổ sông Hồng và sông Cửu Long, kinh rạch sông ngòi chằng chịt, mật độ lưới sông rất dày (2 -4 km/km2) thì miền Trung, mật độ lưới sông thấp hơn (1.5 - 2 km/km2). Riêng các vùng có đá vôi như  Phong Nha, Kẻ Bàng ở Quảng Bình thì mật độ rất thưa (0.3- 0.5 km /km2) vì đá vôi dễ thấm nưóc. Mật độ lưới sông vùng Phan Rang, Phan Thiết cũng thưa thớt vì lưu vực mưa ít và bốc hơi nhiều.
Hệ số dòng chảy là tỉ số giữa lớp dòng chảy (mm) và lớp nước mưa rơi trên lưu vực (mm) tạo nên lượng dòng chảy đó.
Hệ số sử dụng nước là tỉ số giữa lượng nưóc thực sự sử dụng và lượng nước được cung cấp. Hệ số này phản ánh tình hình mất nước trong qúa trình sủ dụng. Trong một hệ thống tưới ruộng thì hệ số này cho thấy tình hình mất nước từ nguồn tới ruộng như tổn thất do ngấm, bốc hơi, rò rỉ qua các bờ kênh. Thường hệ số này từ 0.5 đến 0.8. Muốn tránh rò rĩ trên kinh tưới, nhiều nơi dùng giải pháp bê tông hoá hoặc plastic hoá các kinh
Hệ số thấm là tốc độ thấm nưóc vào đất
Hệ số tưới là lượng nước tưới cho một đơn vị diện tích cây trồng trong một đơn vị thời gian. Tính bằng l/sec/ha. Ví dụ trên lúa là 1 lit/sec/ha,  nhưng trên bắp thì chỉ 0. 7 l/sec/ha
Hệ số nhám. Trong kinh dẫn nước có thể có thực vật phát triển, tăng độ gồ ghề của bề mặt, ảnh hưởng đến dòng chảy
Mođun dòng chảy là lưu lượng nước sinh ra trung bình trên một đơn vị diện tích lưu vực trong một giâỵ.  Tính ra là lít/sec/km2.
Mođun dòng chảy năm lớn nhất đạt tới 70- 80lít/sec/km2 tại lưu vực sông Tả Trạch (sông Hương) và nhỏ nhất chỉ có 5-10 lít/sec/km2 tại lưu vực song Lủy Phan Thiết. Môđun dòng chảy đỉnh lũ có thể đạt 20-30 m3/sec/km2
Dòng chảy bùn cát, còn gọi là dòng chảy rắn là lượng bùn cát do dòng nước vận chuyển trong lòng sông qua một mặt cắt nào đó, trong một khoảng thời gian nhất định như ngày, tháng, năm.. Sông Hồng và sông Cửu Long có dòng chảy bùn cát nhiều phù sa lơ lửng rất lớn.
Kênh dẫn nước đưa nước từ công trình đầu mối (đập, hồ, nhánh sông v.v.) về phân phối cho hệ thống kênh điều tiết nước mặt ruộng, còn kênh tiêu (canal de drainage) dẫn nước thừa trên ruộng ra sông hoặc ra khu chứa nước tiêu
Tưới nước có nhiều phương pháp:
Tưới ngập (submersion irrigation) tạo một lớp nước trên ruộng như trồng lúa . Đòi hỏi phải san bằng đất và đắp nhiều bờ để giữ nước
Tưới rãnh (furrow irrigation) hoặc tưới thấm: đưa nước chảy theo rãnh để nước thấm vào đất theo chiều ngang, giữ được đất thông khí và xốp. Ứng dụng cho bắp đậu trồng theo hàng
Tưới nhỏ giọt (drip irrigation): cung cấp nước từng giọt trực tiếp vào gốc cây . Nước tưới được lọc sạch cặn nếu không lỗ bị bít. Lưu lượng tưới rất nhỏ (thường chỉ vài lít trong một giờ) vừa đủ thấm vào đất
Tưới phun (Sprinkler irrgation): dùng máy bơm hút nước và phun lên thành hạt nhỏ như mưa . Ưu điểm là không cần đắp bờ, san bằng đất khi tưới nhưng khuyết điểm là tăng bốc hơi, tăng ẩm độ không khí có thể tạo điều kiện cho bệnh thảo mộc và ngoài ra, thiết bị bơm đắt tiền

12. Các vấn nạn những dòng sông

Dòng sông vốn là một tài nguyên qúy giá nhưng gặp các vấn nạn sau đây :

12.1 Lũ lụt 

Vì các dòng sông miền Trung không dài, độ dốc núi non rất lớn, đồi núi trọc, không cây che phủ nên nước mưa, vốn tập trung vào vài tháng trong năm, dễ gây ra lụt,  nhất là từ Thanh Hoá đến Quảng Nam. Rừng bị phá hại đã làm  các qúa trình địa mạo tiêu cực như xói mòn, rửa trôi, trượt lở đất xảy ra nhanh chóng .
Rừng có ảnh hưởng đến các yếu tố thủy văn trong lưu vực: rừng hạn chế dòng chảy mặt, chuyển nước mặt thành nước ngầm, nhờ vậy có tác dụng điều tiết nguồn nước sông suối Rừng bảo vệ đất trên các triền lưu vực, giúp chống  xói mòn. Những lưu vực có rừng che phủ thì độ ẩm không khí tăng cao, làm tăng lượng nước rơi địa hình. Chính nhờ các khả năng điều tiết to lớn như vậy của rừng  nên sự phá rừng bừa bãi trên lưu vực đã dẫn đến những kết qủa tai hại như lũ lụt xảy ra, hạn hạn tiếp diễn, xói mòn triền dốc, đem theo cả sỏi đá lẫn cát bùn làm nhiều hồ chứa nước dễ bị bít và cạn, phải nạo vét định kỳ
12.2 Hạn hán. Cũng vì phá rừng nên lượng mưa chảy tràn trên mặt (runoff) nhiều hơn lượng nước mưa thấm vào đất. Gặp mùa nắng kéo dài hoặc khi mùa mưa kết thúc sớm,  lưu lượng trên sông giảm dần nên nhiều nơi thiếu nước sinh hoạt.
12.3 Mặn hoá
Do bùng nổ dân số, sinh đẻ búa xua không kiểm soát, các đồng bằng miền Trung có diện tích đất trồng trọt được càng ngày càng nhỏ nên phải tận dụng thâm canh vào mùa khô, do đó phải bơm nước tưới ruộng, làm nước nhiễm mặn càng xâm nhập sâu. Do bơm nước, mực nước hạ thấp, cường độ thấm nước từ các sông tăng lên, làm nước mặn ngoài biển lấn vào.Vào cuối mùa nắng, khi dòng chảy của sông ngòi nhỏ nhất thì độ mặn lên xa trên mọi dòng sông miền Trung, gây khó khăn cho dân chúng về nước uống cũng như về tưới hoa màu. Cũng có chỗ hệ thống đê ngăn mặn bị vỡ khiến nhiều ruộng bị mặn, không trồng trọt được.
12.4 Sạt lở bờ sông . Sự khai thác bừa bãi càng ngày càng nhiều các tài nguyên như cát, sỏi, vật liệu xây dựng trên các dòng sông để xây cất trong qúa trình đô thị hoá cũng như xây kè lấn ra bờ sông  làm thay đổi dòng chảy hiện có, thay đổi cấu trúc/kết cấu/ địa mạo dòng sông, gây nhiều vực sâu, đưa đến tình trạng sạt lở về lâu dài, như tình trạng các dòng sông như Thu Bồn, Trà Khúc v.v.  khiến nhiều gia đình sống mấp mé bên các triền sông phải di dời hàng năm.
12.5 Bùn cát lơ lửng : nếu nhiều trong dòng nước thì  các hồ chứa bị bồi đầy nhanh chóng. Sự phá rừng trên thượng nguồn  làm bào mòn lưu vực và do đó,  lượng phù sa lắng đọng sẽ tăng cao lòng sông và làm giảm sự thoát lũ. Sông Hương chảy qua thành phố Huế là một ví dụ điển hình: bùn cát làm dòng sông đục ngàu, không còn xanh trong như xưa.
12.6 Thủy triều và sóng lớn . Các rừng ngập mặn bị phá để làm đìa nuôi tôm, nên các làng duyên hải càng bị gió ngoài khơi thổi mạnh, không có hàng rào thực vật thiên nhiên chống đỡ, nên triều cường và sóng lớn lấn sâu vào đất liền; nhiều đìa nuôi tôm, nhièu ao nuôi cá cuốn trôi ra biển. Triều cường làm nhiều vùng thấp bị ngập hư hại và làm các đê bao, đê ngăn mặn bị phá hủy . Khi thủy triều vào trong sông, độ mặn lan truyền, khuyếch tán. Dưới tác dụng của dòng triều, nước biển xâm nhập vào sông, đi về hướng thượng nguồn. Chiều dài xâm nhập phụ thuộc vào cường độ của dòng triều và lượng nước trên thượng lưu đổ về.
12.7 Ô nhiễm nước
Nếu xưa kia, nước quan trọng thì ngày nay, nước lại càng quan  trọng hơn. Lý do chính là do áp lực dân số, tạo nên nhu cầu  nước. Kỹ nghệ phát triển, đô thị phát triển, dân số phát triển kéo theo nhiều phế thải và nhiều ô nhiễm; nhưng vì mọi ô nhiễm dù là từ đất (bãi rác rò rĩ, thuốc sát trùng, phân bón ), dù là từ không khí (từ các khu kỹ nghệ, từ khói xe) nhưng cuối cùng rồi  cũng phải chảy về chỗ thấp, nghĩa là vào nước.Tóm lại, nước không những phải nhiều cho một dân số càng ngày càng tăng (Việt Nam nay đã 80 triệu dân) mà còn phải  sạch để bảo đảm sức khoẻ. Nước mà dơ bẩn thì vô hình gây ra một gánh nặng cho nền y tế. Đặc biệt, trên các dòng sông miền Trung, có nhiều vạn đò sống trên sông và  sử dụng trực tiếp nước sông nên  dịch bệnh là một ám ảnh thường xuyên .Thực vậy, phần lớn phân người từ các đô thị đi thẳng vào sông ngòi mà không được xử lý .Rác rến đổ thẳng vào sông, nhiều dòng sông trở nen dơ bẩn, hôi hám và lại lấy nước đó để giặt giũ !

13. Quản trị các lưu vực
Mọi vấn nạn trên đều có tương quan với nhau. Mùa mưa, nước lụt cuốn trôi nhà cửa ruộng vườn vì mưa lũ nhiều do rừng đầu nguồn bị phá; mùa nắng thì do bơm nước nhiều qúa sự luân lưu của dòng chảy (nước mặt và nước ngầm ) nên nước mặn  xâm nhập sâu vào nội địa. 
Muốn giải quyết các vấn nạn trên, sự quản trị đồng bộ của lưu vực đòi hỏi những biện pháp tổng hợp :
-trồng rừng ở đầu nguồn để chuyển một phần nước mặt thành nước ngầm nhằm hạn chế nưóc lũ dồn về hạ lưu qúa nhanh, kéo dài thời gian truyền lũ. Rừng cây giúp giảm tốc độ dòng chảy, giảm lượng nước chảy tràn bề mặt và lượng đất bị xói mòn.
 Sự phát triển kinh tế và bảo vệ tài nguyên rừng không loại trừ lẫn nhau; đúng hơn, chúng phụ thuộc và hỗ trợ cho nhau . Tài nguyên rừng bảo vệ tài nguyên nước và nhờ tài nguyên nước, mới có những đập thủy điện nhỏ trên các vùng núi non, giúp nông dân thôn bản có thể giải trí nhờ truyền hình, giúp xay lúa, chà gạo, giải phóng phụ nữ khỏi các việc nặng nhọc lam lũ.
 -xây dựng các hồ chứa đầu nguồn để tích nước nhằm giảm mức độ của lũ. Các công trình giữ nước trên núi hay vùng gò đồi giúp  điều tiết lượng nước. Có thể nuôi cá trên các hồ được đào theo hệ thống hồ bậc thang có phun nước, nhận nước và xả nước. Trên các suối, xây đập ,làm hệ thống nước chảy tự động từ suối vào vườn để tưới cây trồng.
-xây dựng các đập tức là những công trình chắn ngang dòng chảy, ngăn nước hoặc tạo thành hồ chứa để điều tiết lưu lượng, bớt được lũ lụt ở hạ lưu vào mùa mưa, bổ sung nguồn nước vào mùa nắng để tưới ruộng, cấp nước sinh hoạt, cải tạo môi trường đầm phá, tạo đầu nước phát thủy điện.
-phân một phần lưu lượng lũ của sông chính vào sông nhánh. 

Và lồng ghép vào chương trình trên phải là một chuơng trình điều hoà dân số,- chú trọng vào chất lượng hơn là số lượng dân-, cũng giúp cải thiện môi trường sống, vì có sự liên hệ chặt chẽ giữa dân số và môi trường .

14 .Kết luận.
Xưa kia, không ai  đặt nặng vấn nạn nước vì nước trong sạch, dồi dào . Nhưng ngày nay, dân số tăng lên kéo theo một loạt nhu cầu về năng lượng, về thực phẩm, về nhà cửa, về vật tiêu dùng nên nhu cầu về nước, từ nước sinh hoạt, nước nông nghiệp, nước kỹ nghệ càng ngày càng tăng, huống hồ với sự  biến đổi khí hậu vì khí nhà kính, sự phá rừng, sự ô nhiễm lại làm nguồn cung cấp nước bị giảm đi, cả lượng lẫn phẩm . Con người phải nhận thức rằng nước là một tài nguyên hữu hạn nên càng phải trân quý, nghĩa là không phá rừng vì rừng làm tăng nguồn nước, không phung phí nước mà gắng tái chế biến. Ở dưới bầu trời này, mọi sự đều có lúc, mọi việc đều có thời:
một thời để chào đời, một thời để lìa thế;
một thời dể phá đổ, một thời để xây dựng;
một thời để khóc lóc, một thời để vui cười;
 một thời để than van, một thời để múa nhảy;
 một thời để xé rách, một thời để vá khâu;
 một thời để làm thinh, một thời để lên tiếng    (Giảng Viên 3:1-4, 7-8).

Ngày nay, chính là thời để lên tiếng, kêu gọi mọi người phải có tình thương Trái Đất, t ình yêu thiên nhiên. Yêu thiên nhiên là không làm tổn hại đến thiên nhiên, núi rừng, cây cỏ . Yêu thiên nhiên là không làm nguồn nước bị ô nhiễm bởi các chất độc hại khiến cho con người cũng như các động vật không bị chết dần chết mòn . Niềm yêu thiên nhiên đưa ta đến khái niệm đạo đức sinh thái, không làm tổn thương đến các hệ sinh thái vốn nuôi nấng loài người từ thưở hàng trăm ngàn năm trước, lúc loài người từ vùng Đông Phi châu bắt đầu tản mác bốn phương. Phong trào ản chay hiện nay cũng đóng góp rất nhiều cho môi trường thiên nhiên. Thực vậy, ăn chay giúp tiết kiệm rất nhiều đất vì không cần đồng cỏ, không cần có thực phẩm nuôi gia súc, tiết kiệm luôn cả nước tưới . Con người đã huỷ hoại môi trường thì chính con người phải đóng góp cải tạo môi trường sống, nghĩa là bớt tiêu thụ, bảo vệ các hệ sinh thái từ rừng đến san hô biển, tạo ra một nếp sống hài hoà, sống an lạc cả Thân lẫn Tâm. Hiện nay, xu thế chung của thời đại là theo chiều hướng đó; nếu ta tiếp tay với các nhà sinh thái học bốn phương để dấy lên một phong trào yêu thiên nhiên,-màu xanh của rừng, của biển, của mây, của nước- thì có lẽ trái đất này mới thoát hiểm nghèo vậy .
                                            Thái Công Tụng